Giới thiệu về dược liệu Mẫu đơn

Mẫu đơn bì là vị thuốc bào chế từ rễ cây Mẫu đơn. Dược liệu này tính hàn, vị đắng, cay, không độc thường được sử dụng để điều trị kinh nguyệt không đều, phong hàn và một số bệnh lý ở phụ nữ sau khi sinh đẻ.
- Tên gọi khác: Đan bì, Đơn bì, Đơn căn, Bạch lượng kim, Thử cô, Lộc cửu, Mộc thược dược, Mẫu đơn căn bì, Hoa tướng, Huyết quỷ
- Tên khoa học: Cortex Moutan hoặc Cortex Paeoniae Suffuticosae
- Họ: Mao lương – Ranunculaceae
Phân bố, thu hái, chế biến
Cây Mẫu đơn nguồn gốc từ Trung Quốc, sau đó được di thực sang châu Âu làm cây cảnh. Tại các nước này hoa nở vào khoảng tháng 5-7, ra quả vào khoảng tháng 7-8. Tại Việt Nam cây này mới được di thực trong phạm vi thí nghiệm ở vùng khí hậu mát.
Trước đây vào ngày gần Tết, nước ta có nhập từ Trung Quốc cả cây vào làm cảnh với giá rất cao. Gần đây thì ít nhập cây làm cảnh, mà chỉ nhập vỏ cây dùng làm thuốc. Hiện nay, điều kiện để di thực và giữ giống tốt hơn.
Tại Trung Quốc, vỏ rễ thu hoạch ở những cây đã trồng được 3-5 năm. Vào khoảng tháng 9 người ta đào lấy rễ, rửa sạch, xắt dọc vỏ rễ và phơi khô. Cách khác là trước khi xắt vỏ có thể dùng dao hay mảnh thủy tinh cạo sạch vỏ rồi mới khạy lấy vỏ phơi khô. Cách trên cho vị nguyên đơn bì, cách dưới cho vị quát đơn bì (mẫu đơn cạo vỏ). Có cách sơ chế khác là sao cho vàng đen gọi là mẫu đơn bì thán mới dùng.
Thành phần hoá học có trong dược liệu

- Trong mẫu đơn bì tươi có một glucozit, khi chất glucozit này tiếp xúc với một chất men có trong vỏ cây này, sẽ cho glucoza và paeonola là một chất phenola C9H10O3 Ngoài ra còn axit benzoic, phytosterol. Chất paeonola đã được Martin, Nagai và Yagi xác định là một chất p. metoxy-o-oxyaxetophenola.
- Paeonola có tinh thể hình kim, độ chảy 500, mùi thơm, vị cay, hơi tan trong nước lạnh, tan nhiều hơn trong nước nóng, tan trong ête, cồn, clorofoc, cacbon sunfua, benzen.
- Dung dịch paeonola trong rượu thêm clorua sắt III sẽ cho màu xanh tím đen.
- Muốn chiết paeonola ta lắc ête với bột rễ mẫu đơn bì dùng Na2CO3 để loại tạp chất, sau đó gạn lấy lớp ête, thêm vào đó dung dịch NaOH để hòa tan paeonola cuối cùng dùng H2SO4 để đẩy paeonola. Hòa tan paeonola trong ête, bốc hơi để kết tinh. Tinh chế bằng cồn một vài lần.
- Năm 1958, Viện y học Bắc Kinh phân tích thấy trong mẫu đơn bì Tứ Xuyên có 5,66% glucozit, 0,4% ancaloit, 12,54% saponin. Trong quát đơn bì có 3,58% glucozit.
Công dụng từ dược liệu Mẫu đơn
Theo y học cổ truyền
Có người cho rằng Mẫu đơn bì không có tác dụng gì đặc biệt. Tác dụng điều kinh và chữa trị của Mẫu đơn bì không do các thành phần hoá học nói trên. Nhưng lại có tác giả cho rằng chất paeonola trong Mẫu đơn bì có tác dụng xung huyết ở vùng tử cung của động vật, do đó có tác dụng điều kinh, nhưng yếu và chậm.

Thí nghiệm trên thỏ, nhận thấy Mẫu đơn bì có tác dụng trị sốt. Có tác giả cho rằng thành phần chủ yếu tác dụng trong Mẫu đơn bì là axit benzoic.
Thí nghiệm tác dụng kháng sinh của Mẫu đơn bì cho thấy có tác dụng trên vi trùng thương hàn, thổ tả và lỵ.
Bài thuốc từ dược liệu Mẫu đơn
Tính vị quy kinh: Khổ, tân, vi hàn. Vào các kinh tâm, can, thận.
Công năng, chủ trị: Thanh nhiệt lượng huyết, hoạt huyết hỏa ứ. Chủ trị: Phát ban, khái huyết, nục huyết, sốt hư lao, cốt chưng, vô kinh, bế kinh, nhọt độc sưng đau, sang chấn.
Cách dùng – Liều dùng: Ngày dùng từ 6g đến 12g (hoặc 5-10g), dạng thuốc sắc hay hoàn tán, thường phối hợp với các vị thuốc khác.
Kiêng kỵ – Thận trọng: Không dùng cho người tỳ vị hư hàn, ỉa chảy, kinh nguyệt ra nhiều, phụ nữ có thai.

Bài thuốc thường dùng:
- 1. Mẫu đơn bì thang – Chữa mọi bệnh của phụ nữ, kinh nguyết không đều, các bệnh sau khi đẻ: Mẫu đơn bì 5g, Đương quy 5g, Thược dược 3g, Sinh địa 6g, Trần bì 4g, Bạch truật 4g, Hương phụ 3g, Sài hồ 2g, Hoàng cầm 2g, Cam thảo 2g, nước 600ml. Sắc còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày.
- 2. Chữa bệnh ôn nhiệt, sốt nóng vào mùa hè – thu, viêm não cấp, sưng gan, sốt xuất huyết, sốt cao co giật, hôn mê trằn trọc, khô khát, gầy rộc: Đơn bì, Huyền sâm, Sinh địa, Mạc môn, Ngưu tất, Quyết minh tử sao, Dành dành sao hay Hoa hòe sao qua, mỗi vị 12g, sắc uống.
- 3. Chữa đơn độc sưng tấy, quai bị, bắp chuối, sưng vú, viêm tinh hoàn, cùng các chứng ứ máu sưng viêm phát sốt và phụ nữ đau bụng phát sốt trong khi hành kinh: Đơn bì, Bông trang, Huyết giác, Hoàng lực, Đơn châu chấu, Chó đẻ răng cưa, mỗi vị 12g, sắc uống.