
Cây xạ can có rất nhiều tên gọi khác nhau như: cây rẻ quạt, biển trúc, ô phiến, ô bồ, ô siếp, ô xuy, ô phiến căn, hoàng viễn, thảo khương, dạ can, phược dực, biển trúc căn, hoàng tri mẫu, quỷ phiến, lãnh thủy đơn, khai hầu tiễn, tử hoa hương, tử hoa ngưu, tử hồ điệp tiên nhân chưởng, dã huyên thảo, ngọc yến, điểu bồ...
Xạ can được biết đến là một dược liệu quý và được ứng dụng rất nhiều trong các bài thuốc dân gian tại Việt Nam với các công dụng như chữa viêm họng, viêm amidan, ho nhiều đờm, khàn tiếng, hạ sốt, tắc tia sữa.
Xạ can là một loại thân thảo sống lâu năm, có thân rễ mọc bò màu nâu nhạt, phân nhiều nhánh. Thân có lá mọc thẳng đứng, có thể cao tới 1m. Lá hình mác, gân song song, dài 20 - 40 cm, rộng 15 - 20 cm, toàn bộ lá xếp thành một mặt phẳng và xòe ra như cái quạt. Hoa có cuống, bao hoa có 6 cánh màu vàng cam đỏ, điểm những đốm tía, đường kính 3 - 4cm. Quả nang hình trứng, có 3 van, dài 23 - 25mm, hạt xanh đen, hình cầu, đường kính 5mm.

Xạ can phân bố chủ yếu ở vùng Đông Bắc Á bao gồm các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Philippine, Ấn Độ, Triều Tiên, trong đó có Việt Nam. Xạ can mọc hoang khắp nơi ở Việt Nam, có nhiều tại Lạng Sơn, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Ninh Binh, Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, có khi được trồng làm cảnh.
Xạ can được thu hoạch vào đầu mùa xuân, khi cây mới nảy mầm hoặc cuối thu, khi lá khô héo. Thu hái bằng cách lấy thân rễ, loại bỏ rễ con và tạp chất, rửa sạch bằng cách ngâm trong nước 2 - 3 giờ, ủ mềm, thái lát nhỏ đem phơi hoặc sấy khô mà dùng dần.
Có hai cách chế biến chính là dùng tươi hoặc khô. Với việc dùng tươi, thân rễ của Xạ can được rửa sạch, thái thành những phiến mỏng, giã với ít muối để sử dụng. Để dùng khô, ngâm nước gạo một hai ngày cho mềm, vớt ra rửa sạch, sau đó thái mỏng đem phơi hoặc sấy khô, khi dùng thì mài thành bột trong bát nhám, uống với nước.
Theo Đông y, xạ can có vị đắng, tính hàn, hơi độc nhẹ. Quy vào kinh Phế và Can.

Nhiều nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh lợi ích của xạ can đối với sức khỏe con người:
Dùng Xạ can 4g, Kinh giới 16g, Kim ngân, Huyền sâm, Sinh Địa mỗi vị 12g, Bạc hà, Cỏ nhọ nồi, Tang bạch bì mỗi vị 8g. Hoặc: Xạ can 6g, Huyền sâm, Sinh địa mỗi vị 16g, Mạch Môn, Tang bạch bì, Cam Thảo nam, Kê Huyết Đằng, Thạch Hộc mỗi vị 12g, Tằm vôi 8g. Đều sắc uống.
Dùng Xạ can, Cam thảo dây hoặc Mạch môn, mỗi vị 10g. Hoặc: Xạ can, Đậu chiều (sao vàng) mỗi vị 8g, Sài Đất 10g, Cam thảo dây tươi 6g. Đều sắc uống.
Mỗi viên chứa bột rễ, lá Xạ can 0,08g, bột Cát Cánh 0,01g, bột Trần Bì 0,01g cùng tá dược vừa đủ. Mỗi ngày dùng 10 viên, chia làm 3 lần ngậm.
Cao Xạ can 2:1 15ml, cao Hương Nhu 2:1 20ml, cao Cam thảo 2:1 10ml, siro đơn vừa đủ cho 100ml. Người lớn mỗi lần dùng 2 thìa canh, trẻ em mỗi lần 2 thìa cà phê, đều dùng 2 lần mỗi ngày.
Mỗi viên nén chứa lượng cao tương ứng với 0,2g Xạ can, 0,5g Huyền sâm. Siro chứa 8g Xạ can, 20g Huyền Sâm trong 100ml. Mỗi ngày người lớn dùng viên nén uống hoặc ngậm 8-15 viên, chia 3 lần; trẻ em uống siro 2-3 thìa cà phê, chia 3 lần.
Dùng Xạ can, Cát cánh mỗi vị 6g, Kim Ngân Hoa, Cỏ nhọ nồi, Bồ Công Anh mỗi vị 16g, Huyền sâm, Sinh địa, Sơn đậu căn mỗi vị 12g, Bạc hà, Ngưu bàng tử mỗi vị 8g. Hoặc: Xạ can 8g, Kim ngân hoa, Thạch cao mỗi vị 20g, Huyền sâm, Sinh địa, Cam thảo nam mỗi vị 16g, Hoàng Liên, Hoàng bá, Tang bạch bì mỗi vị 12g. Đều sắc uống.
Dùng Xạ can 8g, Huyền sâm 16g, Sa sâm, Mạch môn, Tang bạch bì, Ngưu Tất mỗi vị 12g, Thăng Ma 6g, Cát cánh 4g. Hoặc: Xạ can 8g, Sa sâm, Mạch môn, Huyền sâm, Tang bạch bì mỗi vị 12g. Đều sắc uống.
Dùng Xạ can, Hạnh nhân mỗi vị 10g, Thạch cao 20g, Đại táo 12g, Ma hoàng, Tô tử, Đình lịch tử mỗi vị 8g, Bán hạ chế 6g, Gừng tươi 4g. Sắc uống.
Xạ can 6g, Hạ Khô Thảo 16g, Sinh địa, Mạch môn, Sa sâm mỗi vị 12g, Huyền sâm, Địa cốt bì, Bách Bộ chế mỗi vị 8g. Sắc uống.
Bài thuốc trị vú sưng mới phát
Chuẩn bị: Xạ can, lựa loại gốc giống hình con Tằm nằm chết cứng, cùng với rễ cỏ Huyên. Thực hiện: Tán bột, trộn với mật, đắp vào.
Bài thuốc trị bạch hầu
Xạ can 3g, Sơn đậu căn 3g, Kim ngân hoa 15g, Cam thảo 6g. Sắc uống.
Share: