Cây qua lâu còn có tên gọi khác là dưa núi, vương qua, hoa bát (tên gọi ở miền Bắc) hay bát bát châu (tên miền Nam). Tất cả các bộ phận của cây Qua lâu đều được sử dụng làm thuốc. Mỗi bộ phận lại có công dụng khác nhau.

Cây qua lâu là một dây leo dài từ 3-10m, có rễ củ thuôn dài thắt khúc. Lá cây hình tim, mọc so le, hoa đơn tính màu trắng. Quả qua lâu hình cầu hoặc hình trứng, quả non có màu lục, khi chín màu đỏ, nhiều hạt hình trứng dẹt màu nâu. Tất cả các bộ phận của cây Qua lâu đều được sử dụng làm thuốc.
Đặc điểm dược liệu
Hiện nay ta mới phát hiện và thu mua ở Cao Bằng.
Mùa thu hoạch hạt (qua lâu nhân) từ tháng 6 đến tháng 9. Vỏ quả phơi khô cho vị thuốc gọi là qua lâu bì.
Muốn có thiên hoa phấn, sau khi thu hoạch hạt ít lâu (vào mùa thu hay mùa xuân) người ta đào rẻ, rửa sạch đất cát, cạo bỏ vỏ ngoài, cắt thành từng đoạn ngắn, bổ dọc, phơi khô, rồi xông diêm sinh để bảo quản. Rễ thu hoạch vào mùa thu là tốt nhất.
Những nơi người ta trống để chế thiên hoa phấn, thì khi cây ra hoa, người ta ngắt bỏ hết hoa không cho cây kết quả, do đó rễ mập hơn và nhiều bột hơn.
Thành phần hoá học
Qua lâu có chứa saponin, triterpenoid, resin, acid hữu cơ, chất đường, sắc tố và dầu béo có nhiều trong hạt. Phần nhân có chứa chất dầu béo, chứa Cholesterol, còn vỏ quả có chứa nhiều loại amino acid, các alkaloid, trong rễ có chứa nhiều tinh bột

Chất Triterpenoid saponin trong quả có tác dụng làm loãng đàm
Vị thuốc có tác dụng làm giãn động mạch vành, tăng lưu lượng máu của động mạch vành, giúp hạ mỡ máu
Hạt có chứa nhiều chất dầu béo nên có tác tẩy xổ mạnh, vỏ có tác dụng nhẹ, Qua lâu sương có tác dụng nhẹ hòa hoãn hơn
Tác dụng chống hoạt tính gây ung thư
Ức chế trực khuẩn đại tràng, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn thương hàn, phó thương hàn, các trực khuẩn xanh, phẩy khuẩn tả và các bệnh nấm ngoài da
Thuốc có vị ngọt, tính hàn. Quy kinh Phế, Vị và Đại trường
Vỏ có tác dụng: thanh phế hóa đờm, lợi khí khoang hung, chủ trị các chứng ho do phế nhiệt, ngực đau tức đầy, khí kết tụ, có thể do khối u
Hạt của Qua lâu: nhuận phế hóa đờm, nhuận tràng thông tiện, chủ trị các bệnh táo bón, nhũ ung, trường ung.

Chữa táo bón
Qua lâu nhân 15 gam, cam thảo 3 gam, sắc lấy nước canh. Nếu cảm thấy khó uống, bạn có thể cho thêm một chút mật ong.
Điều trị bệnh thấp khớp mãn tính
Qua lâu nhân, Thổ phục linh, Thạch cao, Sinh địa, Rau má, Cốt toái bổ, Kê huyết đằng, Đơn sâm, Uy linh tiên, Khương hoạt, Hy thiêm, Độc hoạt mỗi vị 12g; Bạch chỉ 8g và Cam thảo 4g. Chắt lấy nước canh, uống hàng ngày trong vòng 1 tháng.
Điều trị viêm tuyến vú cấp, vú sưng, nóng, đỏ, đau, nóng
Qua lâu nhân, thêm 15 gam bồ công anh và kim ngân hoa vào nồi sắc, thêm nước cho đặc và để riêng.
Đau họng, câm
Qua lâu nhân, Cam thảo, Bạch cương tằm, mỗi vị 10g; gừng tươi 4g. Trộn tất cả các thứ sắc với 5 phần nước và 2 phần nước. Chia làm 2 lần uống nhỏ sau mỗi bữa ăn.
Trị viêm phế quản, đau thắt ngực do đờm vàng hoặc áp xe phổi
Qua lâu nhân và Bồ công anh mỗi vị 12g; Kim ngân hoa, Bán hạ và Cát cánh mỗi vị 10g; Toàn qua lâu và Ý dĩ nhân mỗi vị 15g; Hoàng liên 4g. Chắt lấy nước để nấu, có thể chia thành nhiều phần nhỏ, dễ sử dụng.
Share: