Dược liệu huyết dụ

Huyết dụ (tên khoa học Cordyline Terminalis Kunth) còn có tên gọi khác là long huyết, cây phát dụ, huyết dụ đỏ. Đây là loài thực vật mọc thấp dưới mặt đất. Cây có màu sắc nổi bật đẹp mắt nên thường được trồng làm cảnh trong vườn nhà hay trong công viên. Khí hậu Việt Nam rất phù hợp với đặc điểm sinh trưởng của cây nên chúng ta có thể bắt gặp huyết dụ ở khắp các tỉnh thành.
Loài thảo dược này có những đặc điểm nổi bật như:
- Thân cây nhỏ, mảnh, có nhiều đốt sẹo, cao khoảng 2m và hiếm khi phân nhánh.
- Lá cây mọc tập trung thành 2 dãy ở ngọn cây, hình lưỡi kiếm. Lá cây có thể rộng đến 10cm và dài đến 50cm. Ở cả hai mặt đều có màu đỏ tía hoặc một mặt màu đỏ, một mặt màu xám.
- Hoa huyết dụ mọc thành cụm trên ngọn. Chùm hoa huyết dụ có thể mọc dài đến 40cm.
- Quả huyết dụ hình cầu và là dạng quả mọng.
Trong Đông y, cây huyết dụ được dùng làm thuốc chữa bệnh. Bộ phận chính được dùng làm thuốc là lá cây. Người ta thu hái lá huyết dụ quanh năm khi lá đã trưởng thành. Dược liệu này có thể dùng cả khi tươi và khi đã sấy khô.
Cây huyết dụ và tác dụng chữa bệnh

Trong Y học cổ truyền, huyết dụ có vị hơi ngọt, tính bình, quy vào can, thận. Lá huyết dụ thường được các thầy thuốc Đông y dùng để:
- Chữa bệnh băng huyết, rong huyết cho phụ nữ sau sảy thai và phụ nữ sau sinh.
- Cầm máu hiệu quả khi có vết thương hở.
- Điều trị chứng nôn ra máu, tiểu tiện và đại tiện ra máu.
- Dùng để điều trị sốt xuất huyết với tác dụng cầm máu rất tốt.
- Trị chứng ho ra máu hay chảy máu cam.
- Trị bệnh phong thấp, xương khớp đau nhức.
- Trị bệnh lao phổi.
- Trị bệnh ho gà.
Y học hiện đại cũng đã nghiên cứu và tìm thấy các thành phần có tác dụng chống oxy hóa, chống viêm, phòng chống ung thư dạ dày của loài thảo dược này. Đặc biệt, huyết dụ có tính kháng khuẩn cao, có tác dụng mạnh với các loại vi khuẩn như Enterococcus, Staphylococcus,... Thành phần dược lý trong huyết dụ cũng làm tăng sự co bóp tử cung, gây độc tế bào ung thư.
Bài thuốc chữa bệnh từ cây huyết dụ

Một số bài thuốc Đông y chữa bệnh bằng thảo dược huyết dụ được áp dụng phổ biến từ xưa đến nay như:
- Chữa ho ra máu, chảy máu cam: Dùng 30g huyết dụ tươi, 20g trắc bách diệp sao cháy, 20g cỏ nhọ nồi mang sắc với nước và uống 2 – 3 lần mỗi ngày.
- Chữa chứng rong kinh, băng huyết: Dùng 20g lá huyết dụ tươi, 10g đài hoa mướp, 8g rễ cỏ gừng, 10g rễ cỏ tranh thái nhỏ rồi mang sắc với 300ml nước. Đến khi nước thuốc cô đặc lại còn 100ml thì để nguội và chia làm 2 lần uống trong ngày.
- Chữa kiết lỵ: Dùng 20g lá huyết dụ tươi, 12g cỏ nhọ nồi, 20g rau má tươi rửa sạch, để ráo nước rồi giã nát. Thêm một chút nước vào đánh đều, lọc bã, lấy nước uống mỗi ngày 2 lần.
- Chữa sốt xuất huyết: Lấy 20g huyết dụ tươi, 20g trắc bách diệp đã sao đen, 20g cỏ nhọ nồi sắc với nước rồi uống 2 – 3 lần uống trong ngày.
- Chữa bệnh trĩ: Dùng 20g lá huyết dụ tươi sắc cùng 200ml nước đến khi cô đặc còn khoảng 100ml thì dừng. Nước thuốc sắc và uống ngay trong ngày.
- Chữa lao phổi: Dùng 60 - 100g lá huyết dụ tươi hoặc 30 - 60g lá huyết dụ khô sắc cùng nước và dùng nước thuốc uống mỗi ngày.
- Chữa tiểu ra máu: Dùng 20g lá cây huyết dụ cùng 20 rễ cỏ tranh, 8g rễ cỏ gừng, 10g đài tồn của quả mướp sắc với 400ml nước. Khi nước thuốc cô đặc còn 100ml thì ngừng đun. Dùng nước thuốc chia 2 lần uống trong ngày.
- Chữa khí hư bạch đới ở phụ nữ: Lấy 30g lá huyết dụ tươi, 20g bạch đồng nữ, 20g lá thuốc bỏng sắc cùng nước uống hàng ngày.
- Chữa thổ huyết, ho ra máu: Dùng 10g lá huyết dụ tươi, 8g rễ cây rẻ mạt, 4g lá thài lài tía phơi khô trong bóng râm. Sau đó sắc cùng 4g trắc bách diệp sao đen lấy nước thuốc uống 2 - 3 lần trong ngày.