
Cây mộc hương là một loại thảo dược lâu năm thuộc họ Cúc, có tên khoa học là Saussurea lappa Clarke. Chiều cao cây dao động từ 1,5 – 2m với lớp vỏ ngoài màu nâu nhạt, thân cây có hình trụ.
Lá cây mọc đối xứng với nhau, phiến chia thùy không đều về phía cuống. Hoa có màu lam tím và thường nở vào tháng 7 – 9. Ngoài ra, quả của cây mộc hương thường hơi nhỏ, dẹt và cong, có màu nâu nhạt, mọc vào tháng 8 – 10.
Tác dụng của Mộc hương

Thành phần hóa học
- Trong dược liệu có khoảng 1 – 3% tinh dầu, 6% chất nhựa và 18% inulin.
- Đặc biệt ở thổ mộc hương có tới 40% inulin, tỉ lệ cao nhất khi thu hái vào mùa thu.
Tác dụng dược lý theo Y học hiện đại
Chất helenin trong dược liệu có tác dụng kích thích mật trực tiếp và rất mạnh, dùng trong vàng da do gan, cải thiện cấu trúc gan, không có hiện tượng sung huyết nhu mô, giảm sưng tế bào gan.
Bên cạnh đó, hai chất costunolide và dehydrocostus lactone trong dược liệu có tác dụng ức chế mạnh sự biểu hiện của kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg) trong tế bào ung thư gan Hep3B ở người.
Một số dược điển Châu Âu còn liệt kê tác dụng của cây như một phương thuốc lợi tiểu, tiêu độc, long đờm và tẩy giun sán.
Đặc biệt, mộc hương còn có các hợp chất có đặc tính kháng tụ cầu (Staphylococcus aureus) mạnh. Trong tương lai, dược liệu này có thể được bổ sung cho các phác đồ kiểm soát nhiễm trùng và ngăn ngừa lây nhiễm tụ cầu.
Các kết quả củng cố bằng chứng rằng đây là dược liệu tự nhiên chứa các chất chống khối u nguyên bào thần kinh đệm đầy triển vọng. Ngoài ra, người ta dự kiến sẽ mở rộng nghiên cứu thêm hoạt tính chống ung thư của cây.
Tác dụng dược lý theo Y học cổ truyền
Theo Y học cổ truyền cây có vị cay, đắng, tính ôn ấm. Quy vào 3 kinh phế, can, tỳ.
Mộc hương có tác dụng kiện tỳ hòa vị, điều khí chỉ thống, an thai, chữa ngực bụng đau đầy, tả lỵ, nôn mửa.
Rễ sau khi đào về, ta cắt bỏ thân, rửa sạch đất cát xung quanh, sau đem phơi hoặc sấy khô.
Một số bài thuốc với mộc hương đã được ứng dụng:

- Lỵ mạn tính dùng mộc hương, hoàng liều lượng bằng nhau, tán bột làm viên, uống mỗi lần 0,2 đến 0,5g, ngày 2 đến 3 lần.
- Tiêu chảy ở trẻ em do thức ăn tích trệ: Mộc hương, mạch nha, bạch truật, hoàng liên, chỉ thực, trần bì, sơn tra, thần khúc, mỗi vị thuốc 12g; sa nhân, liên kiều, la bạc tử mỗi vị 8g. Tán bột làm viên. Ngày uống 4 đến 8g.
- Viêm đại tràng mạn tính thể co thắt, rối loạn tiêu hóa lâu ngày: Mộc hương 6g, hoài sơn, ý dĩ, bạch truật, đẳng sâm mỗi vị 12g, phụ tử chế 8g, can khương, thương truật, chỉ thực, mỗi vị 6g, nhục quế, xuyên tiêu, mỗi vị 4g. Cho vào ấm sắc uống ngày 1 thang, uống 5 thang khám lại.
- Viêm loét dạ dày - tá tràng: Mộc hương 6g, bạch thược, phục linh, kỷ tử, đương quy, đại táo mỗi vị 12g; xuyên khung 10g; táo nhân, a giao mỗi vị 8g; trần bì, ngũ vị tử mỗi vị 6g, gừng 2g. Bỏ vào ấm sắc uống ngày 1 tháng, uống từ 5 đến 10 thang.